Quy luật mâu thuẫn của phép biện chứng duy vật

Phân tích nội dung quy luật mâu thuẫn của phép biện chứng duy vật? Ý nghĩa của phương pháp luận của quy luật này trong việc phát hiện và phân tích mâu thuẫn ở nước ta hiện nay?Gợi ý:

Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, còn gọi là quy luật mâu thuẫn, là hạt nhân của phép biện chứng, nó vạch ra nguồn gốc bên trong sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng.


1. Khái niệm


a. Đối lập, mặt đối lập là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy; chính những mặt đối lập này nằm trong sự liên hệ tác động qua lại với nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng.


b. Sự thống nhất giữa các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau, đòi hỏi có nhau của các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này là tiền đề cho sự tồn tại của mặt kia; chúng luôn tác động qua lại và đấu tranh lẫn nhau theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau gữa các mặt đối lập.


2. Nội dung quy luật


Trong mỗi sự vật hiện tượng hay quá trình nào đó luôn chứa đựng những mặt, những khuynh hướng đối lập nhau tạo thành những mâu thuẫn trong bản thân mình; sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập tạo thành xung lực nội tại của sự vận động và phát triển, dẫn tới sự mất đi của cái cũ và nhường chỗ cho sự ra đời của cái mới.


3. Phân tích nội dung quy luật


a. Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và mang tính phổ biến, là nguồn gốc của sự vận động và phát triển


Những nhà triết học theo quan điểm siêu hình phủ nhận mâu thuẫn bên trong của sự vật hiện tượng, chỉ thừa nhận có sự đối kháng, sự xung đột bên ngoài giữa các sự vật hiện tượng với nhau, nhưng không cho đó là có tính quy luật.


Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng, mọi sự vật hiện tượng trong thế giới đều tồn tại mâu thuẫn bên trong; mỗi sự vật hiện tượng đều là một thể thống nhất giữa các mặt, các thuộc tính, các khuynh hướng đối lập nhau, những mặt đối lập nhau nhưng lại ràng buộc nhau nên nó tạo thành mâu thuẫn.


Mâu thuẫn chẳng những là hiện tượng khách quan mà còn là hiện tượng phổ biến; mâu thuẫn tồn tại khách quan trong thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy con người; tồn tại phổ biến chẳng những ở mọi sự vật hiện tượng mà còn phổ biến trong suốt quá trình vận động và phát triển của chúng; mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác lại được hình thành.


b. Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập


Khái niệm "thống nhất" trong quy luật mâu thuẫn có nghĩa là 2 mặt đối lập liên hệ nhau, ràng buộc nhau và quy định lẫn nhau, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề để tồn tại và phát triển. (ví dụ: đồng hóa và dị hóa, giai cấp vô sản và giai cấp tư sản trong xã hội tư bản chủ nghĩa)

Khái niện "thống nhất" trong quy luật mâu thuẫn còn đồng nghĩa với khái niệm "đồng nhất", đó là sự thừa nhận những khuynh hướng mâu thuẫn, bài trừ lẫn nhau trong tất cả các hiện tượng, các quá trình của tự nhiên, xã hội và tư duy; song "đồng nhất" còn có ý nghĩa khác, đó là sự chuyễn hóa lẫn nhau giữa các mặt đối lập; và như vậy sự "đồng nhất" là không tách rời với sự khác nhau và đối lập, (ví dụ liên hệ: một vật vừa là nó vừa không phải là nó;quan điểm này hoàn toàn đối lập với quan điểm siêu hình, phiến diện, xem sự vật mang tính đồng nhất thuần túy không có đối lập, không có sự chuyển hóa.

Trong một mâu thuẫn, sự thống nhất của các mặt đối lập không thể tách rời sự đấu tranh bài trừ nhau, phủ định nhau giữa chúng; hình thức đấu tranh được thể hiện trong thế giới vật chất là rất đa dạng, từ thấp đến cao, từ đơn giản tới phức tạp (ví dụ: trong thế giới tự nhiên chỉ là những tác động ảnh hưởng lẫn nhau, trong xã hội đó là những xung đột gay gắt, quyết liệt bằng bạo lực cách mạng mới có thể giải quyết căn bản các mâu thuẫn)


Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là một quá trình phức tạp, bao gồm nhiều giai đoạn với những đặc điểm riêng của nó; khi mới xuất hiện, mâu thuẫn thường được biểu hiện ở sự khác nhau của 2 mặt có khuynh hướng trái ngược nhau; trong quá trình phát triển của mâu thuẫn, sự khác nhau đó biến thành sự đối lập, khi 2 mặt đối lập xung đột nhau gay gắt, nếu có điều kiện chín muồi sẽ chuyễn hóa lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết; kết quả là sự thống nhất giữa 2 mặt đối lập cũ bị phá hũy, sự thống nhất của 2 mặt đối lập mới được hình thành cùng mới mâu thuẫn mới.


Bất cứ sự thống nhất của các mặt đối lập cụ thể nào cũng đều có tính chất tạm thời tương đối, nghĩa là nó tồn tại trong trạng thái đứng im tương đối của sự vật hiện tượng; còn sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là có tính chất tuyệt đối, nghĩa là nó phá vỡ sự ổn định dẫn đến sự chuyển hóa về chất của các sự vật hiện tượng, làm cho vật chất luôn vận động và phát triển.


3. Các loại mâu thuẫn


mâu thuẫn trong tự nhiên, xã hội và tư duy tồn tại rất đa dạng; tính đa dạng được quy định bởi đặc điểm của các mặt đối lập, điều kiện thực hiện sự tác động qua lại giữa các mặt đối lập, bởi trình độ tổ chức của hệ thống mà trong đó mâu thuẫn tồn tại.


Căn cứ vào quan hệ giữa các mặt đối lập, người ta phân loại thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài; trong đó, mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập của cùng một sự vật hiện tượng; mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn diễn ra trong mối liên hệ với sự vật, hiện tượng khác (ví dụ: đồng hóa-dị hóa: bên trong; cơ thể-môi trường: bên ngoài); cách phân loại này chỉ mang tính tương đối, các mâu thuẫn tác động lẫn nhau và mâu thuẫn bên trong giữ vai trò quyết định trực tiếp đến sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng (ví dụ: chính sách đối nội-đối ngoại).


Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật hiện tượng, người ta phân loại thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản; mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật hiện tượng, quy định sự phát triển ở tất cả các giai đoạn của sự vật hiện tượng, nó tồn tại trong suốt quá trình tồn tại của sự vật hiện tượng; mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn đặc trưng cho một phương diện nào đó của sự vật, nó quy định sự vận động và phát triển một mặt nào đó của sự vật (liên hệ: mâu thuẫn giữa lực lượcng sản xuất vớiquan hệ sản xuất trong xã hội tư bản chủ nghĩa).


Căn cứ vào vai trò mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu; mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu trong một giai đoạn phát triển nhất định của sự vật hiện tượng, giải quyết nó tạo điều kiện giải quyết các mâu thuẫn thứ yếu; phân biệt mâu thuẫn chủ yếu với mâu thuẫn thứ yếu chỉ mang tính tương đối, trong cùng một sự vật trong điều kiện này là mâu thuẫn thứ yếu, trong điều kiện khác lại là mâu thuẫn chủ yếu.


Căn cứ vào tính chất các lợi ích đối lập trong xã hội, người ta phân chia thành mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng; mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoàn người, những xu hướng xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau (ví dụ); mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng, những khuynh hướng xã hội có đối lập về lợi ích những mang tính cục bộ, tạm thời (ví dụ: mâu thuẫn trong các bộ phận công nhân, giữa thành thị-nông thôn). Phân biệt được các loại mâu thuẫn trên sẽ góp phần xác định chính xác phương pháp giải quyết phù hợp: bằng bạo lực cách mạng hay bằng giáo dục thuyết phục.


4. Ý nghĩa phương pháp luận


Phải thừa nhận tính khách quan của mâu thuẫn, yêu cầu này đòi hỏi chúng ta phải biết phân tích các mặt đối lập của mâu thuẫn, nắm được bản chất của sự vật, khuynh hướng vận động và phát triển của chúng.


Hoạt động thực tiển nhằm biến đổi sự vật là quá trình giải quyết mâu thuẫn của nó, muốn vậy phải xác định đúng trạng thái chín muồi của mâu thuẫn, tìm ra phương thức, phương tiện và lực lượng có khả năng giải quyết mâu thuẫn; không nên giải quyết mâu thuẫn một cách vội vàng khi chưa đủ điều kiện.


Mâu thuẫn phải được giải quyết bằng con đường đấu tranh dưới nhiều hình thức khác nhau, tuỳ loại mâu thuẫn mà có phương pháp giải quyết cụ thể.

Ví dụ về mâu thuẫn triết học?

thử giúp bạn nhé:
mâu thuẫn trong TrH không đơn thuần là đối lập hay đối kháng, mà chỉ như hai mặt tờ giấy: không có mặt nào tốt hay xấu hơn, đơn giản là chúng phải có nhau. Mâu thuẫn là thuộc tính của Tự nhiên: có lực hấp dẫn thì có ly tâm, có vật chất thì có phản vật chất, có trái có phải, trên và dưới, nếu không thế thì không có điều kiện cân bằng để tồn tại. Chính thời gian không có hiện tại đúng nghĩa, mà chỉ có quá khứ và tương lai, tức cái đã biết và cái chưa biết. Quy luật vật lý nối kết các mâu thuẫn này: ví dụ hai otô chạy cùng hướng sẽ tính trước được có đụng nhau hay không.Trong xã hội thì phức tạp hơn thế: anh A và cô B sinh ra tại hai nơi vào hai thời điểm thì khó tính trước sẽ iu nhau và lấy hay không,

VỀ MÂU THUẪN ĐỐI KHÁNG
VÀ MÂU THUẪN KHÔNG ĐỐI KHÁNG
Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng là loại mâu thuẫn đặc thù, chỉ có trong xã hội loài người, mà cũng chỉ trong các xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp. Với tư cách những mâu thuẫn xã hội, mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng có đầy đủ các đặc trưng cơ bản của mâu thuẫn xã hội. Là mâu thuẫn giữa những con người, nên nó không chỉ có những yếu tố khách quan thuần tuý, mà bao giờ cũng chứa đựng một hàm số chủ quan nhất định; việc giải quyết mâu thuẫn ở đây được thực hiện thông qua hoạt động có ý thức của con người, nên chịu sự can thiệp mạnh mẽ của nhân tố chủ quan; biểu hiện chủ yếu của nó là mâu thuẫn về lợi ích mà trong đó, xét đến cùng, lợi ích vật chất giữ vai trò quyết định, nên lợi ích chính là mắt khâu quan trọng nhất trong việc giải quyết mâu thuẫn; và do thường được bộc lộ qua các khâu trung gian hay các lực lượng trung gian, nên việc nhận thức và giải quyết nó thường gặp nhiều khó khăn, phức tạp.
Hiện đang có nhiều ý kiến khác nhau trong việc nhận thức mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng cũng như phương pháp giải quyết chúng trong thực tiễn. Trong bài viết này, chúng tôi xin được góp thêm ý kiến, phân tích nhằm làm sáng rõ quan điểm mácxít về hai loại mâu thuẫn này và về việc lựa chọn các phương pháp giải quyết mâu thuẫn xã hội ở nước hiện nay.

Ví dụ để chứng minh giữa vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng với nhau

- Như bạn biết, sau ngày 30/4/1975, nhà nước ta phát triển XHCN và xem Liên Xô như là một "hình mẫu" và rập khuôn 1 cách giáo đều theo mô hình xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô trong những hoàn cảnh và điều kiện đất nước khác biệt so với Liên xô như : Tập thể hóa công – nông nghiệp nhà nước nắm độc quyền về kinh tế dẫn đến việc hình thành cơ chế quan liêu bao cấp về kinh tế, ( việc bao cấp nền kinh tế cũng là từ Liên Xô.)

- Thế nhưng, đến năm 1986, ta nhận thấy rằng đối với Việt Nam, ta không có được bước đà vững chắc và cao lớn như của Liên Xô nên đến năm 1986, Liên Xô không còn là hình mẫu của việc xây dựng XHCN ở Việt Nam nữa.

- Việc đổi mới cải cách năm 1986 là một bước đi tất yếu của lịch sử, Quan điểm Đổi Mới về kinh tế đã được hoàn thiện dần trong quá trình thực hiện, Đổi Mới về kinh tế : Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
* Theo mối quan hệ biện chứng như thì vật chất quyết định ý thức (Quan điểm về vật chất và ý thức của Triết học Mác - Lênin) và vận động là phương thức tồn tại của vật chất nên việc bao cấp hoàn toàn nền kinh tế sẽ dẫn đến việc vận động bị trì trệ, vật chất không được tạo ra và ý thức trở nên thấp kém. Nền kinh tế bao cấp đã cho thấy những nhược điểm rất lớn của nó là không thể tạo được sự cạnh tranh trong lực lượng sản xuất.

- Ngày đó vác cuốc ra đồng, giơ cuốc lên mà nghe tiếng kẻng thì cầm về luôn, ko thèm cuốc xuống đất nữa vì cuốc hay ko cuốc thì vẫn đc hưởng phần lương giống nhau, làm hay không làm cũng đc hưởng như nhau, dẫn đến vận động bị trì trệ, vật chất không được sản xuất và ý thức không được nâng cao .
- Như hợp tác xã giao cho 2 nhà mỗi nhà một con trâu chăng hạn , nhưng có nhà có hôm lại không đi chăn trâu mặc kệ trâu gầy trâu béo mặc kệ , vì những con trâu này không phải của nhà mình . Vì chăn hay không chăn vẫn được hưởng phần lương giống nhau , làm hay không lam vẫn được hưởng phần như nhau , dẫn đến vận động bị trì trệ, vật chất không được sản xuất và ý thức không được nâng cao .
- Ta thấy nền kinh tế bao cấp sẽ không thể tạo ra sự cạnh tranh trong lực lượng sản xuất , và nó kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển .


* Vậy bạn dễ thấy rằng vì giữa vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Ý thức chỉ có thể tác động đối với vật chất khi nó được thực hiện thông qua hoạt động thực tiễn . nên nếu thực tiễn trì trệ thì ý thức cũng trì trệ theo . Nhờ có hoạt động thực tiễn , ý thức của Đảng được nưng cao và đã đề ra đường lối đổi mới và cải cách . Trước sự trì trệ và chậm chạp ấy, cuộc đổi mới và cải cách năm 1986 là cần thiết. Công cuộc đổi mới và cải cách ấy đã chấp nhận nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần để tạo nên sự cạnh tranh, thúc đẩy quá trình vận động của vật chất , tạo nên sự cạnh tranh trong san xuất , thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển , nhằm nâng cao ý thức của con người.

vi du ve tinh chu quan cua y thuc

Chúng ta đều biết, ngay ở thời kỳ hoàng kim của mình, khuynh hướng duy lý trong triết học và văn hoá châu Âu đã phải hứng chịu sự phê phán gay gắt từ phía các địch thủ tư tưởng của nó. Chẳng hạn, khi Đêcáctơ tuyên bố "Tôi tư duy vậy tôi tồn tại" thì Patxcan cũng đã nói "Con tim có những lý lẽ mà lý trí không thể hiểu được". Cũng như vậy, các đại biểu của siêu hình học cận đại đã phải hứng chịu sự chỉ trích nặng nề của Béccơly và Hium. Sự phê phán đối với tâm thế duy lý dường như đã tìm được hình thức điển hình của nó trong triết học I.Cantơ. Triết gia Đức vĩ đại này, người tuyên bố sẽ thực hiện cuộc cách mạng Côpécníc trong triết học, đã nhìn thấy hạn chế của lý tính và cố gắng luận chứng cho quan điểm về tính đặc thù trong các đối tượng nghiên cứu của toán học, của khoa học tự nhiên và triết học. Quan điểm của ông về những lĩnh vực mà người ta chỉ có thể nhận thức thấu đáo bằng niềm tin, bằng khát vọng vươn tới, về tính thiết định chủ quan của tri thức khoa học và triết học, về tính tích cực của chủ thể nhận thức, đều chứa đựng những tiềm năng to lớn cho sự phát triển triết học. Ý nghĩa thực sự của cuộc cách mạng do Cantơ thực hiện chỉ có thể được đánh giá bởi tiến trình phát triển tư tưởng triết học châu âu sau đó. Triết học Đức từ Hêgen đến Mác là sự tiếp tục luận chứng cho khả năng của lý tính trên những lập trường thế giới quan khác nhau nhưng thống nhất với nhau ở một điểm: tính đồng nhất của tư duy và tồn tại. Một khuynh hướng khác - khuynh hướng hiện tượng học do Edmund Husserl (1859 - 1938), nhà triết học Đức gốc Áo khởi xướng, đã tiếp tục định hướng chống duy lý và cố gắng đi tìm những con đường khác nhau nhằm làm sáng tỏ vấn đề tính chủ quan. Không dừng lại ở việc luận chứng cho sự tồn tại của tính chủ quan và khả năng của nó, khi phê phán quan điểm đồng nhất ý thức, lý tính với "cái Tôi". E.Husserl và những đại biểu khác của hiện tượng học đã đặc biệt chú trọng dần khả năng mô tả tính chủ quan đó, làm rõ sự tồn tại và các yếu tố cua nó với tư cách là điều kiện tiên quyết cho mọi hoạt động người. Với định hướng và những cố gắng đó, hiện tượng học đã được coi là một trong những động lực lớn cho sự phát triển của triết học và văn hoá học châu âu thế kỷ XX.

Tiếp tục cách đặt vấn đề của Lốccơ về kinh nghiệm hội tại, với tư cách một trong hai nguồn gốc của tri thức, Brentanô đã xây dựng một học thuyết độc đáo về ý thức, trong đó ông phân biệt sự khác nhau giữa những hiện tượng tâm lý và những hiện tượng vật lý, và ở mức độ tinh tế hơn, ông đã chỉ rõ sự khác nhau về phương thức hiện hữu của chúng trong ý thức. Quan điểm triết học của Brentanô, đặc biệt là vấn đề tinh ý hướng" mà ông đề xuất trong những năm cuối đời trên cơ sở kết hợp tinh tế những khái niệm tâm lý học với nhũng khái niệm bản thể luận đã có ảnh hưởng đến toàn bộ sự nghiệp triết học của Husserl. Tuy nhiên, trên con đường tìm kiếm tri thức nhân văn. Husserl còn khai thác những tư tưởng của Đêcáctơ, Hium, Cantơ...

Thoạt đầu, do chịu ảnh hưởng của Brelltanô và do chưa hoàn toàn thoát ly những suy tư toán học, Husserl chủ yếu tập trung vào những vấn đề triết học của toán học. Trong công trình Triết học của số học (1891), ông đã cố gắng luận chứng về phương diệu triết học - tâm lý học cho những cấu trúc toán học cơ bản. Tuy nhiên, cố gắng đó đã bị G.Phrêbơhe - nhà logic học, toán học và triết học người Đức phê phán và coi những lập luận của ông chỉ là một thứ chủ nghĩa duy tâm lý. Sau đó, Husserl đã dành 10 năm (1891 - 1900) chuyên tâm nghiên cứu các vấn đề logic, các lý thuyết về tri thức, những vấn đề có liên quan đến cả logic học, bản thể luận và tâm lý học mô tả. Tác phẩm Những nghiên cứu logic (1901) - tác phẩm đầu tiên đích thực hiện tượng học chính là kết quả của 10 năm khổ công đó.

Lời nói đầu in riêng của tác phẩm này là sự đoạn tuyệt với chủ nghĩa duy tâm lý và bước đầu xác định phương hướng nghiên cứu mới. Ở đây, Husserl đã phê phán mọi mưu toan diễn đạt những tri thức cơ sở của toán học, triết học, logic học như là những bộ phận của tâm lý học kinh nghiệm. ông chỉ rõ đặc trưng của chủ nghĩa duy tâm lý là ở chỗ quy giản các thực thể logic, chẳng hạn các mệnh đề phổ quát về các trạng thái tinh thần hay hoạt động tinh thần. Chủ nghĩa duy tâm lý, về thực chất: là những thử nghiệm nhằm diễn đạt những mối liên hệ logic như những trường hợp riêng của mối liên hệ mang tính chất tâm lý. Trong quan niệm của Husserl, các thực thể logic, các con số, các mệnh đề, các liên hệ logic theo một nghĩa nào đó là kết quả của nhận thức và do vậy rõ ràng là thiếu căn cứ khi quy chúng về các hoạt động tinh thần. Sự phê phán đó của Husserl đã có ảnh hưởng trên một phạm vi rộng lớn và đóng vai trò "cái kết thúc thời kỳ hoàng kim của chủ nghĩa duy tâm lý".

Do chịu ảnh hưởng của Cantơ, khi luận chứng cho đối tượng và nhiệm vụ của môn khoa học mới, Husserl đã phân biệt giữa "vật như nó được đem lại cho ta" với "vật tự nó” (theo nghĩa là vật như tự thân nó tồn tại) và tuyên bố khoa học của ông chỉ miêu tả vật như nó được đem lại cho cho chúng ta mà thôi. Vật như nó được đem lại cho chúng ta rõ ràng chỉ tồn tại trong ý thức. Khoa học của ông không hướng vào những đối tượng được giả định một cách ngây thơ là đang tồn tại. Theo ông, chúng ta cần phân biệt sự hiện diện mang tính trực giác với khái niệm có tính chất biểu tượng và nói một cách dễ hiểu hơn, đó là sự phân biệt giữa cái thực tại với cái ý niệm, giữa bản thân đối tượng và nghĩa của nó đối với mỗi người. Không những thế, nếu ý thức không chỉ hướng ra bên ngoài mà còn hướng vào bên trong, vào các dòng ấn tượng cũng như các động thái của nó thì cũng cần phân biệt các loại đối tượng khác nhau của ý thức. Ý thức không chỉ có các đối tượng vật chất, mà còn có cả những "đối tượng mang tính phạm trù” (hay những đối tượng mang tính tư tưởng) những đối tượng được kiến tạo qua sự suy xét: các điều kiện, các quan hệ... Tương ứng với những dạng đối tượng này, theo ông, ý thức hay nhận thúc bao gồm những khái niệm gián tiếp - những khái niệm mà nội dung chỉ dần dần có được trong quá trình xác định nghĩa của đối tượng và những khái niệm trực tiếp hay trực giác mà nội dung của chúng được lấp đầy ngay khi ý thức hướng vào đối tượng. Cấu trúc hình thức của "những đối tượng mang tính phạm trù” gắn liền với chức năng ngữ pháp của ngôn ngữ. Bởi vậy, sự nhận thức chúng chỉ được thực hiện qua lời nói. Nghĩa của chúng phải được rút ra khỏi cái vỏ tâm lý học và ngữ pháp, và đương nhiên, khỏi đối tượng. Husserl tuyên bố con người có thể có khả năng trực giác trí tuệ với những đối tượng thuộc dạng đó và theo ông. khả năng trực giác xuất hiện khi chúng ta nói rõ ràng về một đối tượng với tư cách hành vi quy định những đặc trưng nhất đinh hay những mối quan hệ của nó. Về các đối tượng vật chất, Husserl cho rằng, chúng ta có thể hình dung về chúng một cách gián tiếp theo nghĩa là chúng hay một số phương diện nào đó của chúng không hiện hữu đối với chúng ta nhưng vẫn được coi như có tồn tại hoặc có thể hình dung về chúng một cách trực tiếp thông qua trực giác. Song, dù chúng có được đem lại cho chúng ta bằng cách nào thì chúng cũng không bị mất đi những cái "chưa hiện diện", những cái chỉ có thể được tập hợp lại bởi chính chúng ta. Như vậy, theo ông, nhận thức tự nó đã là một sự dung hợp của những khái niệm gián tiếp và những khái niệm trực tiếp.

Husserl cho rằng, sự vật đó, cái thực tại dược đem lại cho chúng ta bằng nhiều cách khác nhau là cái mà triết học phải tập trung miêu tả chính xác sự hiện hữu của nó trong ý thức. Nhiệm vụ của triết học không phải là kiến tạo những học thuyết có phạm vi quá lớn hay bảo vệ các hệ tư tưởng, mà ngược lại, cần tập tung phân tích, chẳng hạn, những đối tượng được lĩnh hội như thế nào và chúng tuỳ thuộc đến mức độ nào vào các hoạt động nhận thức, như nhìn thoáng qua, tập trung hay xem xét mà không đụng chạm đến chúng. Triết học nên miêu tả các cách thức mà, theo đó, những dạng tồn tại khác nhau như những đối tượng vật chất, những sự vật sống, những con người, những khách thể văn hoá… đều có thể được đem lại cho chúng ta. Hơn nữa, triết học cần làm rõ quá khứ và hiện tại đã được con người hình dung như thế nào, "độ lâu”, các con số, không gian, thời gian và cả cơ thể của chính chúng ta dược đem lại cho chúng ta ra sao. Với tinh thần thử nghiệm, Husserl đã thực hiện những sự phân tích đó đối với ý thức của bản thân và trong mọi trường hợp, ông đều phân biệt đối tượng được đem lại trong ý thức với hoạt động ý thức của chủ thể - hoạt động mà chủ thể đó phải tiến hành sao cho đối tượng dược lĩnh hội. Ở đây, chúng ta thấy rõ ràng ảnh hưởng của Cantơ sau những ý tưởng này của Husserl. Ông gọi sự miêu tả hiện tượng học về đối tượng là "sự phân tích đối tượng" mà thực chất, đó là sự mô tả đối tượng theo kiểu hiện tượng học: tức là sự phân tích nội dung đối tượng với tư cách nghĩa được đem lại cho mỗi chủ thể. Ông gọi sự phân tích các động thái tinh thần, các khái niệm của chủ thể là "sự phân tích lý trí” mà thực tế, đó cũng là sự miêu tả từ lập trường hiện tượng học đối với hoạt động tinh thần của chủ thể. Cái đối tượng và cái chủ thể theo nghĩa đó cùng nằm trong quan hệ tương liên, song không bao giờ có thể quy giản lẫn nhau.

Theo Husserl, khi tiến hành những miêu tả như vậy, chúng ta phải chỉ ra được những cấu trúc bản chất của các đối tượng, nhưng không phải bằng cách khái quát hoá các thí dụ, các trường hợp đã trải qua, mà bằng cách. như Husserl gọi, "biến hình tự do" hay “biến hình tưởng tượng”. Tức là, trong sự tưởng tượng, chúng ta tách những đặc trưng khác nhau khỏi đối tượng của sự phân tích, sự tách biệt một số đặc trưng như thế sẽ khiến cho đối tượng được thể hiện ra trong tính chính thể của nó. Tuy nhiên, việc tách ra một số đặc trưng khác lại phá huỷ đối tượng và do vậy, ngay khi ý định đó xuất hiện: cần phải nhanh chóng nhận ra rằng chúng ta đã tìm ra cái gì mang tính bản chất của đối tượng. Phương pháp "biến hình tự do" đó về thực chất, là sự trực giác bản chất. Ở đây theo chúng tôi, chúng ta cần chú ý thuật ngữ trực giác bản chất - chữ "bản chất" được Husserl dùng không phải theo nghĩa đối lập với "hiện tượng" trong cặp phạm trù "bản chất - hiện tượng", mà ngược lại, nó là cái bản chất nằm ngay trong hiện tượng, hiện tượng hiện ra trong tư tưởng như thế nào thì đó chính là bản chất. Đó là ý nghĩa mà Husserl thường dùng. Đồng thời, ý nghĩa đó cũng phù hợp với nghĩa gốc của từ "eidetic" là "thuộc về trí nhớ những hình ảnh thị giác". Sự trực giác bản chất, theo Husserl, là khả năng thấu hiểu dược đặc trưng này hay đặc trưng kia là thuộc về bản chất ("eidos" hay "essence") của sự vật được nói tới. Sự trực giác bản chất như vậy không chỉ nhằm vào những đối tượng, mà còn nhằm vào những hình thức khác nhau của tính ý hướng, chẳng hạn, khi chúng ta xác định bản chất của sự tri giác, trí nhớ, khả năng xét đoán và những cái tương tự.

Tính ý hướng (intentionality) là một trong những khái niệm vào loại quan trọng bậc nhất của hiện tượng học. Khái niệm này có liên quan đến vấn đề dã bàn trước đây vấn đề khái niệm gián tiếp và khái niệm mang nội dung trực tiếp. Husserl dùng khái niệm tính ý hướng để chỉ mối quan hệ của ý thức với sự vật dù sự vật đó được đem lại một cách trực tiếp hay nó chỉ được ám chỉ đến khi "không hiện diện". Ý thức bao giờ cũng là ý thức về một cái gì đó. Nhưng "cái gì đó” ấy là cái tồn tại đã qua suy xét cái được kiến tạo. Chính vì vậy, theo Husserl, cần phân biệt mặt "hiện thực" hay mặt thời gian với mặt "tâm tính" của hành vi ý thức, nghĩa là cần phân biệt "dòng chảy các ấn tượng” xuất hiện trong ý thức với hành vi hướng vào các ấn tượng ấy của chính ý thức. Ở đây, ông gọi tính có đối tượng của hành vi là "nghĩa" hay "văn cảnh" và chỉ rõ đó là đối tượng được nói đến trong sự phân biệt với đối tượng phổ biến. Nghĩa của đối tượng cũng là một tồn tại mang tính tinh thần nhưng không phải là một hình thái tinh thần.

Như đã nói, nhược điểm của Những nghiên cứu logic là vẫn chịu ảnh hưởng của Cantơ, đặc biệt là sự phân biệt "vật tự nó" với "vật như nó được đem lại cho ta". Trong những năm 1900 - 1910, thông qua sự phản tư sâu sắc hơn về những trải nghiệm thời gian, về ký ức và về bản chất của tư duy triết học, Husserl đã khắc phục được sự phân biệt kiểu Cantơ này và khẳng định rằng "vật tự nó" có thể được đem lại cho chúng ta như là tính đồng nhất có trong một tập hợp những hiện hữu. Quan điểm mới này được đưa ra trong tác phẩm Những ý niệm liên quan đến một Hiện tượng học thuần tuý và một Triết học hiện tượng học, hay còn gọi là Những ý niệm (1918) - tác phẩm đã bị rất nhiều người hiểu một cách sai lầm như là thái độ chấp nhận chủ nghĩa duy tâm truyền thống của Husserl.

Husserl đã nhiều lần nói về bản chất của tư duy triết học. Ông phân biệt tâm thế tự nhiên tức là tình trạng bị cuốn hút một cách ngây thơ vào các sự vật và thế giới do ảnh hưởng của khoa học tự nhiên, của quan niệm hàng ngày và của triết học cổ điển, với tâm thế triết học quan điểm phản tư mà từ đó chúng ta thực hiện sự phân tích đối với những khái niệm đã được sử dụng trong tâm thế tự nhiên và những đối tượng tương ứng với những khái niệm này. Khi bước vào tâm thế triết học, chúng ta đặt ra ngoài mọi ảnh hưởng hay tạm gác lại những khái niệm và mọi quyết đoán của tâm thế tự nhiên, điều này không có nghĩa là chúng ta nghi ngờ hay phủ định chóng, mà chỉ có nghĩa là tạo ra một khoảng cách với chúng và xét đoán cấu trúc của chúng. Husserl gọi việc "tạm gác lại” này là "sự kiềm chế hiện tượng học”. Ông muốn thuật ngữ "epoché" từ trường phái Xiníc - một trường phái triết học xuất hiện vào giai đoạn suy tàn của văn hoá Hy Lạp cổ đại. Nó có nghĩa là "sự treo lên lòng tin vào tính hiện thực của mối liên hệ được nêu lên trong sự phán đoán”. Tất nhiên. trong đời sống người, chúng ta đều xuất phát từ "tâm thế tự nhiên". Để đạt đến "tâm thế triết học", chúng ta không những phải "kiềm chế", mà còn phải làm cho ý thức trở nên trong sạch, nghĩa là làm cho ý thức trút bỏ được nội dung đối tượng, chỉ còn lại những đặc tính vốn có của con người. trở thành "ý thức thuần tuý". Quá trình mà nhờ đó chúng ta chuyển sang "tân thế triết học" được gọi là phép quy giản hiện tượng học - một bước lùi từ những niềm tin mang tính tự nhiên để trở lại sự suy xét đối với những khái niệm và những đối tượng của chúng. Trong "tâm thế triết học", chúng ta cần xem xét một cách kỹ càng những khái niệm mà chúng ta thường lướt qua, những khái niệm vẫn tác động một cách âm thầm trong tình trạng chúng ta bị cuốn hút một cách ngây thơ vào thế giới. Trong toàn bộ sự nghiệp của mình, Husserl đã thứ nghiệm những cách thức quy giản khác nhau hoặc những lý luận khác nhau để kiến tạo triết học. Đôi khi, ông cố bắt chước sự nghi ngờ mang tính phương pháp của Đêcáctơ, lại có lúc, ông cố chỉ ra rằng, những khoa học có định hướng vào thế giới cần bổ sung sự phản tư hiện tượng học, nếu chúng thực sự muốn trở thành khoa học.

Một trong những đặc điểm dễ thấy của "tâm thế tự nhiên" là nó chấp nhận một cách đơn giản thế giới này như là nền tảng cuối cùng của tất cả những kinh nghiệm và niềm tin đặc thù hơn của chúng ta. Theo Husserl, thế giới với tư cách đối tượng là cái nằm trong quan hệ tương liên với thế giới mềm tin hay thế giới tinh thần của con người. Trong tâm thế hiện tượng học, chúng ta cần tạo ra một khoảng cách ngay cả với sự tồn tại tự nhiên của chính mình trong thế giới và miêu tả nó như cái gì đó để có được thế giới. Husserl cho rằng, hình thức phản tư căn bản, hình thức thắc mắc căn bản này là cần thiết cho sự bắt đầu triết học và cho việc bước vào cái mà ông gọi là hiện tượng học tiên nghiệm hay hiện tượng học thuần tuý. Khi nào chúng ta lãng quên việc nghi ngờ thế giới tinh thần và cả cái thế giới hiểu theo nghĩa thông thường thì khi đó, chúng ta mất khả năng đạt đến tính thuần khiết triết học và những phân tích của chúng ta sẽ thực sự trở thành những bộ phận của các khoa học trần tục (chẳng hạn như tâm lý học) và sẽ không còn mang tính triết học.

Husserl còn đưa ra một sự phân định giữa hành vi lắp lại lời nói một cách không suy nghĩ, thụ động với hoạt động có sự suy xét rõ ràng, hoạt động mà trong đó, chủ thể hoạt động thực hiện sự suy xét minh bạch về chính mình. Tư duy rõ ràng tự nó, theo ông, vẫn có thể rơi trở lại tình trạng thụ động hoặc trở nên một thứ "cặn bã" khi người ta coi nó là đúng một cách hiển nhiên và tiếp tục các bước tư duy trên cơ sở đó. Thứ tư duy "cặn bã", thụ động như vậy có thể hàm chứa tính mâu thuẫn, tính không rõ ràng và do vậy phải làm cho nó tích cực trở lại, làm cho ý nghĩa của nó được phục hồi và có lẽ, việc áp dụng logic học hình thức có thể xem như hoạt động suy xét đã được tiến hành.

Trong những phân tích nhờ phản tư hiện tượng học, chúng ta miêu tả những hành vi ý hướng khác nhau và cũng có thế khám phá được cái "Tôi" với tư cách chủ thể hay tác nhân đằng sau những hành vi này. Với quan niệm đó, Husserl đã phân biệt cái Tôi tâm lý học cái Tôi đóng vai trò như một bộ phận của thế giới, với cái Tôi tiên nghiệm, cái Tôi đóng vai trò như một kẻ có thế giới riêng của nó, cái Tôi gắn liền với chân lý và do đó, gắn liền với những lĩnh vực đã "vượt quá" thế giới này.

Husserl luôn tìm cách giải thích "tính nước đôi” rất đáng chú ý của cái "Tôi". Đó vừa là cái gì thuộc về thế giới (với tư cách là tồn tại người), vừa là cái gì "vượt quá" thế giới (với tư cách một trung tâm nhận thức có khả năng chiếm lĩnh hay ban bố nghĩa cho thế giới). Cái Tôi tiên nghiệm không tồn tại tách rời mỗi cá nhân, nó là cái bản nguyên của mỗi tồn tại người. Trong mỗi chúng ta đều có một cái Tôi tiên nghiệm, bởi lẽ tất cả chúng ta đều là những sinh tồn có ý hướng và có lý trí. Husserl còn nỗ lực để phân tích tính liên chủ thể và cố gắng chỉ ra những cái "Tôi" khác, những tinh thần khác, những trung tâm ý thức và nhận thức lý tính khác được hiện diện và được hình dung như thế nào. Vai trò của thể xác, của năng lực giao tiếp của các quy tắc giao tiếp và cái sự thật là, nói chung, chúng ta đều tham dự vào các sự vật và thế giới… là những yếu tố quan trọng của sự phân tích ấy.

Cái Tôi tiên nghiệm, nguồn gốc của các hành vi ý hướng, được hình thành trong thời gian; nó có tính đồng nhất của riêng mình, tính đồng nhất khác với tính đồng nhất của các sự vật hay các điều kiện. Nói cách khác, cái Tôi tiên nghiệm, cội nguồn của các hành vi ý hướng là một tổng thể không thể phân chia. Tính đồng nhất của cái Tôi đó được tạo nên một cách dần dần thông qua "dòng chảy" của các kinh nghiệm, thông qua ký ức và sự tiên niệm.